Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh

08/11/2015 | 3746 | Thanh Tâm | Văn 8

Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh

 

“ Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay”…
 
Ai sinh ra mà chẳng có quê hương ? Quê hương là nơi chon nhau cắt rốn, là ngôi nhà gắn với biết bao kỉ niêm ấu thơ. Dù bất cứ ai có xa mảnh đấy quê nhà vì lí do nào đó nhưng có lẽ vẫn luôn nhớ về quê hương, đất nước của mình đúng không ? Quê hương thật là đẹp ! “Quê hương là chùm khế ngọt…”, câu thơ ấy vẫn luôn khắc sâu trong tâm khảm của mỗi con người chúng ta.
 
Trong văn học, có biết bao bài thơ viết về quê hương, ca ngợi vẻ đẹp của quê hương. Mỗi nhà thơ khi viết về quê hương đều mang một vể đẹp, một tình cảm rất riêng cho mảnh đất thân yêu của mình. TRong số những nhà thơ mà tôi biết, thì Tế Hanh là nhà thơ có cảm xác dạt dào, tha thiết với đất mẹ quê cha.Vì thế mà ông đã viết nên những vần thơ mãnh liệt như có hồn ca ngợi về miền đất nơi ông đã sinh ra. Đó là bài thơ “ Quê hương”. Bài thơ được viết năm 1939, khi nhà thơ vừa tròn 18 tuổi, đang học trung học tại Huế. Nỗi nhớ làng chai,nhớ quê hương thân yêu ở Bình Dương, Quảng Ngãi đã tỏa rộng và thấm sâu vào bài thơ. Bài thơ man mác nhớ thương vơi đầy.
 
Hai câu thơ đầu, tác giả gợi tả về cái “làng tôi”. Thân mật, tự hào, đầy yêu thương ..đều thể hiện qua hai tiếng “làng tôi” ấy :
 
“ Làng tôi ở vốn làm nghề chai lưới
Nước bao vây cách biển nửa ngày sông”
 
Quê hương là một làng chài, bốn bề sông nước “ bao vây”, một làng nghèo thuộc duyên hải miền Trung “ cách biển nửa ngày sông”. Con sông mà nhà thơ nhắc tới là con sông Trà Bồng chảy qua huyện Bình Sơn, phía Bắc tỉnh Quảng Ngãi.Giọng điệu tâm tình, một cách nói chân quê, dân dã dã vừa cụ thể, vừa trừu tượng nghe màdịu ngọt.
 
Sáu câu thơ tiếp theo là hồi tưởng lai một nét đẹp của quê hương : cảnh làng chai ra khơi đánh cá. Kỉ niệm về quê hương như được lọc qua ánh sáng tâm hồn. Một ánh bình minh đẹp ra khơi có “gió nhẹ”, có “ánh mai hồng”, có những chàng trai cường tráng, khỏe mạnh “ bơi thuyền đi đánh cá”. Cảnh đẹp sáng trong, giọng thơ nhẹ nhàng thể hiện khung cảnh và niềm vui của làng chai trong buổi xa khơi:
 
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá”.
 
Tiếp đến, một loạt hình ảnh so sánh , ẩn dụ mới mẻ về con thuyền, mái chèo và cánh buồm..Tuấn mã là chú ngựa tơ, đẹp, phi nhanh. Ví chiếc thuyền “ nhẹ hăng như con tuấn mã”, tác giả đã tạo nên một hình ảnh trẻ, ỏe, trẻ trung, diễn tả khí thế hăng hái, phấn khởi lên đường.Chữ “ hăng” dùng rất hay, rất thích đáng, nó liên kết với các từ ngữ “ dân trai tráng” và “ tuấn mã” hợp thành tính hệ thống, một vẻ đẹp của văn chương. Mái chèo như những lưỡi kiếm khổng lồ chém xuống nước, “phăng” một tiếng đầy mạnh mẽ, đưua con thuyền “ vượt trường giang”. Sau hình ảnh chiếc thuyền,mái chèo, là hình ảnh “ Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng” – hình ảnh đẹp biểu trưng cho nét hồn hậu của làng quê chài lưới.”Giương” có nghĩa là căng lên đón gió ra khơi. So sánh “cánh buồm” to như “ mảnh hồn làng” là rất hay và đặc sắc. Cánh buồm to biểu tượng cho hình bóng và sức sống quê hương.Nó là tượng trưng cho sức mạnh, lao động sáng tạo,ước mơ về ấm no hạnh phúc quê nhà. Nó còn tiêu biểu cho chí khí và khát vọng ssi chinh phục biển khơi của đoàn trai tráng đang hừng hực khí thế. Cánh buồm đó mạnh mẽ “ rướn thân trắng bao la thâu góp gió”, tạo nên một hình ảnh thật đẹp, mang đậm cảm hứng lao động và cảm hứng vũ trụ. Cánh buồm được nhân hóc. Ba chữ “ rướn thân trắng” gợi tả một cuộc đời trải qua nhiều mưa nắng, gắng sức quyết tâm lên đường. Đây là khổ thơ xuất sắ tả cảnh ra khơi của đoàn thuyền đánh cá, tự hào ca ngợi sức sống của làng chai thân thương:
 
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…
 
Đứa con xa quê có bao giờ quên được cảnh bà con làng chai đón đoàn thuyền đánh cá từ biển khơi trở về. Các từ ngữ : “ ồn ào”, “ tấp nập” diễn tả niềm vui mừng “ đón ghe về”. Niềm vui sướng tràn ngập lòng người, là của “khắp dân làng”. Cảnh “ đón ghe về” thực sự là ngày hội lao động của bà con ngư dân:
 
Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về
 
Cá “ tươi ngon thân bạc trắng” đầy khoang thuyền, được mùa cá, vui sướng trong niềm vui ấm no, hạnh phúc, bà con làng chai khẽ thốt lên lời cảm tả đất trời đã cho biển lặng sóng êm, chó “ cá đầy ghe”. Sự cầu mong và niềm tin thánh thiện “ nhờ ơn trời” ấy đã biểu lộ những tấm lòng mộc mạc, hồn hậu của những con người suốt cuộc đời gắn bó với biển, vui sướng, hoạn nạn cùng với biển. Tế Hanh đã thấu tình quê hương khi ông viết :
 
Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
 
Đọc câu thơ ta như cảm nhận được hồn thơ Tế Hanh mang âm hưởng của ca dao dân ca:
 
Ơn trời mưa nắng phải thì
Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu
Nhờ trời hạ kế sang đông,
Làm nghề cày cấy, vun trồng tốt tươi…
 
Tiếp theo mạch cảm xúc, đoạn thơ thứ tư bài thơ nói về bến quê bằng hai nét vẽ trẻ tráng và bình yên. Những chàng trai làng chai có “ làn da ngăm rám nắng” khỏe mạnh, can trường, được tôi luyện trong sóng gió đại dương, trong mưa nắng dãi dầu. Họ mang theo hương vị biển. Hai chữ “ nồng thở” rất thần tình làm nổi bật nhịp sống lao động hăng say, dũng cảm của những dân chai mang theo tình yêu biển. Hình tượng thơ mang vẻ đẹp lãng mạn :
 
Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm
 
Nét vẽ thứ hai là vẽ con thuyền. Sau một chuyến ra khơi vất vả trở về, nó mỏi mệt nằm im trên bến. Con thuyền là biểu tương của vẻ đẹp làng chai, của những cuộc đời trải qua bao phong sương thử thách, bao dạn dày sóng gió:
 
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối ngấm dần trong thớ vỏ.
 
Con thuyền được nhân hóa với nhiều yêu thương. Vần thơ giàu cảm xúc, mang tính triết lí về lao động trong thanh bình. Chữ “ nghe” thể hiện sự chuyển đội cảm giác rất tinh tế và thi vị. Bến quê trở thành một mảnh tâm hồn của đứa con li hương.
 
Kết bài thơ là đoạn thơ bồi hồi thương nhớ, thương nhớ hình bóng quê hương. Điệp ngữ “ nhớ” làm cho giọng thơ thiết tha, bồi hồi, sâu lawgs. Xa quê nên “ tưởng nhớ” khôn nguôi. Nhớ “ màu nước xanh” của con sông, biển làng chài. Nhớ “ cá bạc”, nhớ “ chiếc buồm vôi”,.. Thấp thoáng trong hoài niệm là hình ảnh con thuyền “ rẽ sóng ra khơi” đánh xá. Xa quê nên mới “ thấy nhớ” hương vị biển, hương vị làng chài thương yêu “ cái mùi nồng mặn quá”. Tình cảm thấm vào câu chữ, màu sắc, vần thơ. Tiếng thơ cũng là tiếng lòng trang trải hồn quê vơi đầy thương nhớ. Cảm xúc dịu dàng, đằm thắm, mênh mang:
 
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá.
 
Bài thơ “ Quê hương” có một câu đề từ rất gợi cảm: “ Chim bay dọc biển đem tin cá”. Đó là câu thơ của phụ thân nhà thơ. Nhớ quê hương, nhớ người cha thân yêu dào dạt trong hồn thơ Tế Hanh. Sau này, năm 1963, khi sống trên miền Bắc, trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, trong bài thơ “ nghe tin cha mất”, ông xót xa hồi tưởng:
 
Cuộc khởi nghĩa Cần Vương thất bại
Đắng cay cha trở lại quê nhà
…Vịnh quê hương vài vận thơ ca:
Chim bay dọc biển đem tin cá
Nhà ở kề sân,sát mái nhà”.
 
Có cảm ận được câu thơ đề từ ấy, ta mới nắm bắt được tình thương nhớ quê hương của Tế Hanh qua bài thơ kiệt tác này.
 
Bài thơ “ Quê hương” đã đi suốt cuộc hành trình gần 80 năm. Nó gắn liền với tâm hồn trong sáng, với tuổi hoa niên của Tế Hanh. Thể thơ 8 tiếng, giọng thơ đằm thắm dào dạt, gợi cảm. Những câu thơ nói về dòng sông, con thuyền, cánh buồm, khoang ca, chàng trai đnáh cá, bến quê…và nỗi nhớ của đứa con xa quê rất hay, đậm đà, biểu lộ một hồn thơ đẹp. Nghệ thuật phối sắc, sử dụng các biện pháp tu từ ẩn dụ, so sánh, nhân hóa và chuyển đổi cảm giác khá thành công, tạo nên những vần thơ trữ tình chứa chan thi vị.
 
Trong thơ ca Việt Nam hiện đại, tác phẩm này của Tế Hanh được coi là bài thơ đầu tiên, bài thơ có “ hồn vía” nhất viết về quê hương. Nó đã khơi dòng, để sau này có nhiều bài thơ tuyệt bút nối tiếp xuất hiện nhứ : “ Bên kia sông Đuống” ( Hoàng Cầm), “Quê hương” ( Giang Nam), “Nhớ con sông quê hương” ( Tế Hanh), “Quê hương” ( Đỗ Trung Quân)…Người đọc tìm thấy hình bóng tuổi thơ đồng hiện với quê hương. Quê hương của một người đã trở thành của muôn người và muôn đời là thế!
 
Nguồn : bestvnii.com