Soạn văn - Ông Đồ của Vũ Đình Liên

08/11/2015 | 17569 | Thanh Tâm | Văn 8

Soạn văn Ông Đồ của Vũ Đình Liên, trả lời các câu liên quan đến tác phẩm Ông Đồ

 

TRẢ LỜI CÂU HỎI PHẦN ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN 

Câu 1. 

- Trong 2 khổ thơ đầu : hình ảnh ông Đồ viết chữ nho ngày Tết là một hình ảnh đẹp. Đấy là cái thời đắc ý của ông. Ông xuất hiện cùng với “ hoa đào”, “ mực tàu”, “giấy đỏ”. Ông đem lại niềm vui cho nhiều người khi viết câu đối tết. Bao nhiêu người nhờ ông, tấm tắc khen ngợi ông.
- Khổ thơ 3 và 4 vẫn diễn tả không gian ấy, thời gian ấy, nhưng không khí khác : nhưng mỗi năm mỗi vắng. Không phải vắng nagy lập tức mà vắng dần theo thời gian. Và bây giờ hầu như không thấy họ : “ người thuê viết nay đâu ?”. Giấy cũng buồn, mực cũng sầu. Ông đồ vẫn có mặt, nhưng người ta không ai nhận ra ông, không chú ý vào ông nữa. Trước đây ông đồ là trung tâm của sự chú ý, nay ông bị đẩy ra ngoài rìa, gần như bị lãng quên. 
=>Sự khác nhau gợi cho người đọc cảm xúc thương cảm ông đồ , ông đang bị gạt ra rìa cuộc sống, ông đang bị lãng quên cũng với những gì gắn với chữ Hán, với thú chơi câu đối một thời. Hai câu tơ : “ lá vàng rơi trên giáy – ngoài giời mưa bụi bay” không chỉ là hai câu thơ tả cảnh mà còn là hai câu thơ tả tâm trạng, tả cảnh ngộ của ông đồ. Lá vàng rơi – biểu hiện của sự tàn úa, lại kèm mưa bụi bay. Lạnh lẽo và buồn thảm.

Câu 2. 
Tâm tư của nhà thơ thể hiện qua bào thơ một cách kín đáo. Tác giả đã mô tả hai cảnh đối lập và gợi niềm thương cảm ông đồ một cách gián tiếp. Chỉ đến cuối bài thơ, khi không còn ông đồ,tác giả mới thốt lên “
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ ? 
Không chỉ thương cho ông đồ, nhà thơ còn cảm thương một lớp người đã trở thành quá khữ. Hơn thế nữa, sự hoài cổ còn là hoài niệm một vẻ đẹp văn hóa gắn với những giá trị tinh thần truyền thống. Chính vì thế mà bài thơ có sức lay động sâu xa.

Câu 3.
- Không chỉ hay ở nội dung hoài niệm, bài thơ còn hay ở nghệ thuật. Trước hết là dựng cảnh tương phản. một bên tấp nập đông vui, một bên buồn bã hiu hắt. Một bên nét chữ như phượng múa rồng bay, bên kia giấy buồn không thắm, mực đọng nghiên sầu. 
- Kết cấu đầu cuối tương ứng. Cũng là thời gian ngày áp tết, cũng là không gian mùa xuân, cũng vẫn là hoa đào nở. Nhưng hình ảnh ông đồ cứ nhạt nhòa dần. Cuối cùng thì không thấy hình ảnh ông đồ nữa, Ông đồ đã trở thành ông đồ xưa, không còn là ông đồ cũ.
- Bài thơ làm theo thể năm chữ. Lời lẽ dung dị, không có gì tân kì. Những hình ảnh thơ gợi cảm. Hình ảnh : “ hoa tay…rồng bay” thật sinh động. Những hình ảnh “ giấy đỏ buồn không thắm – mực đọng trong nghiên sầu- lá vàng rơi trên giấy – ngoài giời mưa bụi bay” không phải là thiên nhiên đơn thuần, mà thiên nhiên nhuốm đầy tâm trạng. 

Câu 4. 
Những câu thơ “giấy đỏ buồn không thắm – mực đọng trong nghiên sầu- lá vàng rơi trên giấy – ngoài giời mưa bụi bay” là những câu thơ không chỉ tả cảnh. Tác giả dùng biện pháp nhân hóa làm cho giấy – mực, những vật vô tri vô giác cũng biết sầu buồn. Lá vàng, mưa bụi buồn bã, lãnh lẽo. Lá lại rơi trên giấy không thắm, mưa bụi càng làm cho cảnh vật như nhòe mờ. Ông đồ đã bị lãng quên, càng bị khuất lấp. Những câu thơ như thế đã tạo cho người đọc những ấn tượng và ám ảnh sâu sắc.